Lịch sử hình thành và phát triển

  • 17/04/2020

PHẦN I MỎ THAN NA DƯƠNG (1959 – 1985) SẢN XUẤT, CHIẾN ĐẤU VÀ XÂY DỰNG

1. Sự ra đời của mỏ than Na Dương

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và thành công của Hội nghị Giơnevơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược và bè lũ tay sai để thống nhất đất nước.

Miền Bắc trở thành hậu phương lớn, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam. Các phong trào thi đua lao động sản xuất ở miền Bắc được dấy lên mạnh mẽ.

Lúc bấy giờ Nhà máy xi măng Hải Phòng là nhà máy duy nhất sản xuất xi măng để xây dựng đất nước. Để có than ngọn lửa dài đốt lò sản xuất clinker cho Nhà máy xi măng Hải Phòng, Nhà nước ta phải mua loại than này của Trung Quốc với giá rất đắt và phải vận chuyển từ mỏ than Bình Hương từ Hoa Bắc xuống Hoa Nam bằng tàu biển và có tàu chiến hộ tống. Trước tình hình đó, qua quá trình rà soát, với tài liệu của Pháp để lại chúng ta thấy có loại than này trong nước ở vùng Na Dương, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, trước đây thực dân Pháp đã mở công trường khai thác than. Do đó Chính phủ quyết định khôi phục công trường Na Dương để khai thác than dùng cho Nhà máy xi măng Hải Phòng.

2. Than Na Dương giai đoạn(1959 – 1965): Vừa sản xuất vừa chiến đấu

Ngành than khi ấy có vị trí đặc biệt quan trọng, là nguồn năng lượng chủ yếu phục vụ xây dựng đất nước. Mỏ Than Na Dương lúc bây giờ là thời kỳ khôi phục lại khai thác,chính vì vậy, Mỏ tiến hành ổn định bộ máy,tổ chức khai thác than cho nhà máy xi măng Hải Phòng.

Năm 1956, Bộ Công nghiệp cử một đoàn cán bộ của Cục Khai – Hóa – Luyện (Khai khoáng – Hóa chất – Luyện kim) và Cục Địa chất đến mỏ Na Dương nghiên cứu tại thực địa.

Năm 1957, Đoàn Địa chất 4 gồm 20 người, do ông Dương Văn Dậu phụ trách,cùng với chuyên gia Liên Xô tham gia đến Na Dương điều tra cơ bản và khoan thăm dò.Đồng thời Bộ Công nghiệp cũng cử một số cán bộ đến Na Dương thuê nhân dân khai thác lấy 500 tấn than chuyển về Nhà máy Xi măng Hải Phòng đốt thử. Tháng 9 năm đó,Nhà máy Xi măng Hải Phòng báo cáo lên Bộ và Chính phủ kết quả dùng than Na Dương thay thế than Bình Hương – Trung Quốc là rất tốt.

Ngày 10/01/1959, Bộ Công nghiệp có Quyết định số 104 BCN/KH4 quyết định khôi phục lại Mỏ than Na Dương

Ngày 21/3/1959 Mỏ than Na Dương chính thức được thành lập trong ngày trọng đại đó CBCNLĐ của Mỏ rất vinh dự được đón tiếp đồng chí Vũ Anh – Thứ trưởng Bộ Công nghiệp công bố và trao quyết định thành lập Mỏ.

Ngày 01/04/1959, Mỏ làm lễ ra quân khai thác.Thời gian này cùng với việc thành lập Đảng bộ, tháng 6/1959, bộ máy quản lý mỏ được thành lập, gồm: Bí thư Chi bộ kiêm Giám đốc; Phó giám đốc kiêm Phó bí thư Chi bộ; Thư ký Công đoàn kiêm Bí thư chi đoàn; Ban kế hoạch (có 3 người); Ban tài vụ(4 người); Ban kỹ thuật (3 người); Ban cung tiêu (3 người) và Ban hành chính (4 người).

Trong giai đoạn này để tăng sản lượng,mỏ được đầu tư các thiết bị như: Máy gạt DT54, máy gạt lật TO10E-C100, máy xúc gàu thẳng D051, D500, E1251, UNIKOP, có dung tích gàu từ 0,5m3 đến 1,2m3, động cơ chạy bằng dầu. Ô tô vận tải có xe bò tót (MA3), xe TATRA, có trọng tải 6 đến 10 tấn.

Tháng 01/1960 Mỏ thành lập các ban chuyên môn, nghiệp vụ các công trường phân xưởng gồm ban: Tổ chức cán bộ, Lao động tiền lương, Kế hoạch, Kỹ thuật, Hành chính,Bảo vệ, Tài vụ, Cung tiêu, Đội điện nước sản xuất. Đến đầu năm 1962 đổi các Ban thành các Phòng.

3. Than Na Dương giai đoạn(1966 – 1985): Sản xuất, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc

Đây là thời kỳ ngành Than cùng nhân dân cả nước tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng XHCN ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.Năm 1966, chiến tranh leo thang của giặc Mỹ càng ác liệt, giặc Mỹ đã bắt đầu đánh phá Lạng Sơn. Cán bộ, công nhân Mỏ than Na Dương vừa chiến đấu anh dũng vừa sẵn sàng phục vụ chiến đấu, với khẩu hiệu “Vì miền Nam ruột thịt, mỗi người làm việc bằng hai”(tấn than cung cấp vì miền Nam đánh Mỹ). Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt đó, theo tiếng gọi thiêng liêng của đất nước, công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương còn xung phong lên đường nhập ngũ ra chiến trường để góp sức mình vào sự nghiệp giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, nhiều người đã lập công xuất sắc, có những đồng chí đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và có đồng chí đã mãi mãi không trở về, vĩnh viễn hiến dâng trọn tuổi thanh xuân cho độc lập tự do.

Chiến tranh ngày càng diễn ra ác liệt.Nhà máy xi măng Hải Phòng bị hư hại nặng, ít có khả năng khôi phục lại sản xuất. Tháng 03/1968, Bộ Công nghiệp có quyết định giải thể mỏ than Na Dương, chỉ để lại bộ khung cán bộ và công nhân kỹ thuật chủ chốt để bảo vệ thiết bị và các công trình của mỏ; tiếp tục chuyển một số công nhân, cán bộ sang khu vực sản xuất khác.

Chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ bằng máy bay bị thất bại nặng nề, các ngành công nghiệp ở miền Bắc trong đó Nhà máy xi măng Hải Phòng được khôi phục sản xuất. Tháng 10.1968, Bộ Công nghiệp quyết định phục hồi sản xuất mỏ than Na Dương. Đầu năm 1969, các hoạt động sản xuất của mỏ đã trở lại bình thường nhưng lượng tiêu thụ than Na Dương vẫn cầm chừng, sản xuất chủ yếu theo kế hoạch trên giao và theo nhu cầu của Nhà máy xi măng Hải Phòng

Từ năm 1965 đến 1972 do giặc Mỹ đánh phá Cảng Hải Phòng và Nhà máy xi măng Hải Phòng nên sản lượng than tiêu thụ của mỏ không ổn định. Mục tiêu của Bộ Công nghiệp đề ra cho mỏ bằng mọi giá đảm bảo được than cho Nhà máy xi măng và trong thời gian này Mỏ luôn đáp ứng được mục tiêu và hoàn thành vượt kế hoạch từ 102% đến 116%. Năm 1975 đất nước thống nhất, nhiệm vụ của Mỏ giai đoạn này là hết sức nặng nề, vừa tăng cường khai thác than cung cấp cho Nhà máy xi măng Hải Phòng, vừa khẩn trương nâng cao năng lực bốc xúc đất đá, mở rộng mỏ theo công suất thiết kế lần thứ hai.

Phần II. MỎ THAN NA DƯƠNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 – 2009)

1. Than Na Dương trong công cuộc đổi mới giai đoạn (1986 – 1999)

Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu một thời kỳ mới, một bước ngoặt mới đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất kế hoạch hóa tập trung sang sản xuất theo cơ chế thị trường,tạo nền kinh tế đất nước một hướng đi mới đầy triển vọng.Đất nước bước vào công cuộc đổi mới chuyển đổi từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Là giai đoạn Công ty Than Na Dương phải đối mặt với nhiều khó khăn nhất. Đó là, sau một thời gian dài bao cấp, quản lý tập trung, nên thiết bị xe máy xuống cấp, phụ tùng sửa chữa thay thế khan hiếm, sản xuất gặp khó khăn. Hệ số bóc đất đá cao, do Mỏ không có thời gian mở rộng, mà chủ yếu tập trung cải tạo là chính.

Nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất của thời kỳ đổi mới, Mỏ kiện toàn bộ máy các phòng,ban, phân xưởng. Cùng với việc kiện toàn lại bộ máy 28 phòng ban, công trường, Mỏ tiếp tục được đầu tư tăng cường thiết bị công nhân kỹ thuật nhằm cung cấp đầy đủ, ổn định than cho Nhà máy xi măng Bỉm Sơn trong thời gian Nhà máy đạt tối đa công suất thiết kế để cung cấp đủ xi măng cho Nhà máy thủy điện Hòa Bình đang trong thời kỳ thi công cao điểm và các công trình xây dựng khác.

Tháng 10/1986, một bước ngoặt tiếp theo của Mỏ đó là Liên hiệp Xí nghiệp than Hòn Gai có sự thay đổi về tổ chức, Mỏ không thuộc Liên hiệp Xí nghiệp Than Hòn Gai, mà trở thành một đơn vị thành viên trực thuộc Công ty Than 3, do đồng chí Nguyễn Châu làm giám đốc

Khó khăn chồng chất khó khăn trong giai đoạn này đó là năm 1989, Nhà máy xi măng Hải Phòng ngừng hẳn không lấy than Na Dương vì đã chuyển đổi công nghệ. Tiếp đến năm 1998, Chính phủ ký quyết định cho Nhà máy xi măng Bỉm Sơn chuyển đổi công nghệ từ phương pháp ướt sang phương pháp khô nhằm giảm giá thành và có điều kiện mở rộng,nâng cao công suất nhà máy. Do đó Nhà máy xi măng Bỉm Sơn sẽ giảm dần sản lượng tiêu thụ than ngọn lửa dài của mỏ than Na Dương.Bên cạnh đó, hầu hết thiết bị bốc xúc vận chuyển như khoan, gạt trong dây chuyền sản xuất chính đã xuống cấp loại B và C, do thời gian sử dụng đã lâu,dẫn tới thời gian sử dụng thấp, năng suất thiết bị không đạt, thời gian xe nằm trong xưởng chờ sửa chữa lâu, chất lượng sửa chữa không đảm bảo do phụ tùng vật tư không đồng bộ.Với tinh thần vì việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động, Tổng công ty than Việt Nam, Công ty than Nội Địa (tiền thân là Công ty Than 3) và lãnh đạo Mỏ đã tập trung tháo gỡ khó khăn cho Than Na Dương, một mặt tập trung tìm các thị trường tiêu thụ ngoài các hộ tiêu thụ là xi măng, trong và ngoài nước… Cùng với đó, Công ty than Nội Địa giải quyết sắp xếp một số lượng lớn lao động làm việc tại các đơn vị như xí nghiệp than Núi Hồng, Suối Bàng, Thanh An, Nông Sơn, đến Nhà máy xi măng La Hiên… hoặc chuyển công tác tới các đơn vị khác trong và ngoài ngành Than; khuyến khích công nhân nghỉ hưu trước tuổi và nghỉ theo chế độ 176…

Những giải pháp, những quyết sách mang tính chiến lược trong một thời gian ngắn nhất lập lại trật tự, kỷ cương và mang lại kết quả. Trong thời gian chưa tới 1 năm, từ cuối năm 1992 đến đầu năm 1993 khó khăn đã dần dần được giải quyết, các mặt tổ chức sản xuất và quản lý đã đi vào nền nếp. Mỏ phát động phong trào thi đua lao động sản xuất lập thành tích chào mừng 35 năm ngày thành lập (21/3/1959 – 21/3/1994). Kết thúc năm kế hoạch 1994, Mỏ đã hoàn thành xuất sắc toàn diện mọi chỉ tiêu nhiệm vụ, về trước đích kế hoạch 1 tháng. Đây là năm có sản lượng khai thác và tiêu thụ cao nhất trong 35 năm thành lập với sản lượng tiêu thụ 143.568 tấn than loại I, tăng doanh thu hơn 4 tỷ đồng,nộp ngân sách nhà nước đầy đủ, thu nhập của công nhân tăng lên, tạo niềm tin tưởng lớn trong đội ngũ người lao động.

2. Than Na Dương (giai đoạn2000 – 2009): Ổn định sản xuất

Trước sự chuyển đổi, nâng cấp về công nghệ sản xuất xi măng đã tạo nên bước ngoặt cho ngành công nghiệp xi măng, song lại đẩy mỏ than Na Dương đến nguy cơ phải đóng cửa. Nhằm giải quyết khó khăn cho mỏ than Na Dương, lãnh đạo Công ty Than Nội địa -nay là Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc TKV – CTCP (CMV) đã quyết định xây dựng Nhà máy xi măng La Hiên để giải quyết số lượng lớn lao động của Mỏ than Na Dương

Chính giai đoạn này là tiền đề cho chiến lược “Phát triển sản xuất kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất than” của Công ty Than Nội địa.

Ngày 3/12/1998, Chính phủ đã quyết định phê duyệt đầu tư Dự án Nhà máy Nhiệt điện Na Dương với tổng mức đầu tư của dự án hơn 124 triệu USD và giao cho Tổng Công ty Than Việt Nam làm chủ đầu tư.

Ngày 20/3/1999, Mỏ than Na Dương long trọng làm lễ khởi công gói thầu san gạt mặt bằng nhà máy nhiệt điện Na Dương (tại trung tâm Nhà máy Nhiệt điện Na Dương hiện nay).

Tuy nhiên, tình hình sản xuất kinh doanh của mỏ lúc này chưa có gì khả quan, tiêu thụ sản phẩm giảm sút một cách đáng kể, do Công ty Xi măng Bỉm Sơn đã tiến hành cải tạo xong 1 lò nung, nên tiêu thụ than Na Dương giảm dần. Trong ba năm 1999-2001, mỏ chỉ bóc tổng cộng1.842.378m3 (bình quân 614.126 m3) và chỉ đầu tư một số thiết bị duy trì sản xuất (05xe BELAZ 75483 trọng tải 42 tấn, 01 máy xúc thủy lực CAT-330B dung tích gầu 1,8m3).

Ngày 09/05/2001, Tổng công ty Than Việt Nam phê duyệt dự án Đầu tư cải tạo mở rộng mỏ than Na Dương để cung cấp than cho nhà máy Nhiệt điện Na Dương. Ngày 02/04/2002, Nhà máy Nhiệt điện Na Dương chính thức được khởi công xây dựng.Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ sản xuất, mỏ đã từng bước tiến hành sắp xếp lại các phòng ban. Mô hình tổ chức lúc này là Bí thư Đảng ủy kiêm Giám đốc; Chủ tịch Công đoàn kiêm Phó Giám đốc; Phó Giám đốc Kỹ thuật; Phó Giám đốc Sản xuất; Phó Giám đốc Cơ điện.

Tháng 5/2006, Bộ Công nghiệp có Quyết định số 1372/QĐ-BCN về việc chuyển đổi Xí nghiệp than Na Dương thành Công ty TNHH MTV than Na Dương.Tháng 12-2006, Hội đồng quản trị Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc có Quyết định số 0295/QĐ-HĐQT về việc đổi tên Công ty TNHH Một thành viên than Na Dương thành Công ty TNHH một thành viên than Na Dương-VVMI.

PHẦN III. MỎ THAN NA DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2010 – 2019 ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Trong giai đoạn này kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, tình hình khủng khoảng nợ công và lạm phát tăng cao ở nhiều nước đã tác động lớn đến kinh tế Việt Nam. Ở trong nước một số doanh nghiệp ngành nghề lao đao khi đối diện với nguồn nhiên, nguyên liệu tăng cao… Trong bối cảnh đó, Ngành than nói chung và Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc nói riêng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Đối với Công ty Than Na Dương cũng gặp nhiều khó khăn do khai thác ngày càng xuống sâu, chất lượng than không đồng đều…Mặc dù sản xuất kinh doanh của công ty gặp nhiều khó khăn… nhưng dưới sự lãnh đạo và giúp đỡ to lớn của Tỉnh ủy Lạng Sơn và Huyện ủy, UBND huyện Lộc Bình; sự chỉ đạo sát sao của TKV và Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc, cùng với sự đoàn kết thống nhất với quyết tâm cao của cán bộ, công nhân lao động, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các dân tộc trên địa bàn nên các chỉ tiêu kinh tế của Công ty đều hoàn thành kế hoạch đề ra.

Thực hiện “Đề án tái cơ cấu Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam giai đoạn2012 – 2015” theo Quyết định số 314/QĐ-TTg ngày 07/02/2013 của Thủ tướng chính phủ. Hội đồng thành viên Tập đoàn công nghiệp Than –Khoáng sản Việt Nam đã ban hành Quyết định số 388/QĐ-TKV ngày 05/3/2014 và Quyết định số 401/QĐ-TKV về việc phê duyệt đề án Tái cơ cấu và Cổ phần hóa Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc – Vinacomin, theo đó tháng 4/2014, Công ty TNHH MTV than Than Na Dương được sáp nhập vào Công ty Mẹ và trở thành Chi nhánh của Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc.

Cùng với việc thay đổi mô hình tổ chức và trên cơ sở hiệu quả đầu tư đã đạt được của tổ hợp than điện Na Dương I, Các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam, lãnh đạo Tổng công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc đã tin tưởng và tiếp tục giao nhiệm vụ cho Công ty Than Na Dương cùng Viện KHCN mỏ phối hợp với Trường đại học tổng hợp Craccốp – Cộng hòa Ba Lan nghiên cứu,đánh giá và thực hiện các giải pháp để đảm bảo ổn định bờ trụ Nam của mỏ đồng thời đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, triển khai đền bù GPMB, di chuyển xưởng sàng chuẩn bị mặt bằng cho nhà máy Nhiệt điện Na Dương II đồng thời thực hiện dự án Đầu tư mở rộng nâng công suất mỏ từ 600.000 tấn/năm lên 1,2 triệu tấn/năm với tổng mức đầu tư trên 777 tỷ đồng với mục tiêu đảm bảo cung cấp đủ than cho nhà máy Nhiệt điện Na Dương I và Na Dương II trong giai đoạn tới.

Mỗi một chặng đường phát triển, mỗi một lần chuyển đổi tổ chức quản lý là mỗi lần đội ngũ người lao động và cán bộ của Công ty đứng trước thách thức mới. Song với quyết tâm đổi mới, với truyền thống kỷ luật và đồng tâm của người thợ mỏ, tập thể cán bộ, công nhân của Công ty đã xây dựng Công ty phát triển và trưởng thành. Đến nay, số lao động của Công ty đã sau khi cơ cấu còn 520 người có trình độ quản lý, tay nghề kỹ thuật, nghiệp vụ cao và được đầu tư trang bị nhiều thiết bị sản xuất hiện đại.

Trong 60 năm xây dựng và phát triển, Công ty than Na Dương đã bốc xúc, vận chuyển 93,5 triệu mét khối đất đá, khai thác trên 12,7 triệu tấn than nguyên khai, tiêu thụ hơn 10,6 triệu tấn than sạch cung cấp chủ yếu Nhà máy Nhiệt điện Na Dương, một phần cho nhà máy Xi măng Bỉm Sơn. Hơn 12,7 triệu tấn than đó đã tham gia sản xuất hàng chục triệu tấn xi măng và hàng tỷ kWh điện góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước trước đây và sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày nay.Từ năm 2014 đến năm 2018, Công ty đã sản xuất và tiêu thụ 2,6 triệu tấn than, bóc đất đá đạt 26,2 triệu m3, doanh thu đạt 2.700 tỷ đồng, nộp ngân sách 456 tỷ đồng, chênh lệch sản xuất kinh doanh đạt 641 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động đạt 7,42 triệu đồng/người/tháng.

Thực hiện Chỉ thị liên tịch số 102/CTLT/TGĐ-CĐTKV ngày 25/5/2017 của Tổng giám đốc và Công đoàn Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam và Chỉ thị liên tịch số 778/CTLT-TGĐ-CĐCMV ngày 01/6/2017của Tổng giám đốc và Công đoàn Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc TKV-CTCP về việc tiếp tục thực hiện tái cơ cấu lao động. Đến nay, số lao động của Công ty đã được cơ cấu lại còn 520 người có trình độ quản lý, tay nghề kỹ thuật, nghiệp vụ cao và được đầu tư trang bị nhiều thiết bị sản xuất hiện đại.Nhằm đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa trong khai thác than, ngày 2/3/2017,Đảng ủy Tập đoàn và Nghị quyết số 17-NQ/ĐU ngày 08/3/2017 của Đảng ủy Tổng công ty về tập trung lãnh đạo đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa vào sản xuất và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2017-2021,tầm nhìn đến năm 2030.An sinh xã hội là một trong những nét truyền thống của Công ty, hàng năm Công ty tham gia các Quỹ từ thiện, Quỹ vì người nghèo tỉnh Lạng Sơn, Quỹ đền ơn đáp nghĩa và phụng dưỡng 01 bà mẹ Việt Nam Anh hùng,tham gia ủng hộ chương trình xây dựng nông thôn mới…

 

Tỷ giá vàng